7 câu hỏi để xác nhận hệ giá trị bản thân; 25 hệ giá trị cá nhân trọng tâm. Hệ quy chiếu cá nhân là gì: là tập hợp của nhiều hệ giá trị cá nhân của một cá thể. Làm cách nào thay đổi phản ứng và sống kiên định với hệ giá trị bản thân Thuồng luồng, hay giao long, là sinh vật không có thật. Loài thủy quái này trong hình dung của dân gian có phần giống rồng nhưng không hẳn là rồng. Thuồng luồng thường rất to lớn, có sừng như rồng, thân hình giống rắn, sức mạnh kinh khủng, thậm chí đến mức siêu nhiên Tham khảo thêm thông tin chi tiết: KYC là gì? Những điều bạn cần biết để xác minh KYC. Rửa tiền. Các tài liệu này gồm có sách vở tùy thân cá thể, sách vở tùy thân có ảnh, dẫn chứng xác định địa chỉ, v.v. Các tài liệu này được cho phép tổ chức triển khai công Thành phần bản thân ghi là gì? thành phần bản thân hiện nay, thành phần bản thân trong sơ yếu lý lịch, thành phần gia đình trong sơ yếu lý lịch là gì Thành phần bản thân l à: Hãy g hi rõ bạn là học sinh, sinh viên, nông dân, công nhân, cán bộ, công chức, viên chức, kỹ sư Nếu từng đọc thần thoại Bắc Âu, các bạn sẽ biết rằng Thor vốn sở hữu một cỗ xe, được kéo bởi hai chú dê thần là Tanngrisnir cùng Tanngnjóstr, được mô tả là to lớn, đẹp đẽ và có cặp sừng vĩ đại. Bên cạnh việc vô cùng khỏe và có thể bay lượn, chúng còn có thể hồi sinh. Vay Tiền Trả Góp 24 Tháng. THÂN XÁC giỮa tôn vinh và khinh thị 07/09/11, 537 pm I. Suy tư nhân học - Nhiều người vẫn còn nghĩ lầm rằng Giáo hội trong quá khứ đã không hiểu hay xem thường thân xác con người, đặc biệt thường trấn áp những gì liên quan đến một chiều kích quan trọng của con người tính dục. Họ kết án Giáo hội đã khinh chê “xác thịt” coi đó là dịp tội đưa ra quá nhiều cấm kỵ về chủ đề ấy, và không biết đến giá trị tích cực của khoái cảm và vai trò quan trọng hình thành nhân vị của nó. - Đối với xã hội hôm nay thì sao? - Thân xác đã lên ngôi. Có lẽ để phản ứng ngược lại và cũng vì luân lý kitô giáo không còn thống trị ở phương tây nữa, xã hội hôm nay lại tôn vinh đến phát ngán hình ảnh thân xác, đặc biệt qua các phương tiện truyền thông đại chúng những hình ảnh thân xác đẹp, trẻ trung, hừng hực, gợi thèm muốn được triễn lãm, ca tụng, quảng cáo. Một xác thân thèm muốn và gợi thèm muốn! Tuy nhiên cũng xuất hiện nhiều lý thuyết và kỹ thuật nhằm đến đối tượng là thân xác nhưng tìm cách phát huy hay khôi phục lại sự thống nhất hài hòa thân xác và tinh thần. Có thể thấy điều đó nơi các nghệ thuật múa hiện đại, yoga, võ thuật… Tất cả mọi nguồn mạch còn ẩn dấu trong thân xác con người đang được chính con người tìm kiếm, khảo sát nhằm đi tìm hay tìm lại một cảm giác hài hòa, an lạc. Có người nói Các bạn hãy ý thức về thân xác của mình nó thay đổi, trở nên hữu hiệu, đẹp đẽ, và thế là cả cách suy nghĩ của các bạn cũng thay đổi theo. Dù các bạn là ai, nếu muốn thay đổi chính mình, hãy bắt đầu từ thân xác của các bạn. Điều quan trọng là biết “kiểm soát mọi cảm xúc tiêu cực ghen tương, giận dữ, tỵ hiềm, Và như thế nhờ những kỹ thuật thích hợp sẽ chẳng còn tội lệ gì nữa sic!. - Thân xác, để làm gì, cho ai? Thế nhưng trong tất cả những kỹ thuật hay nghệ thuật về thân xác này, trung tâm của mọi sự chú ý là bản thân the self và cảm giác hài hòa, an lạc của nó. Chúng tiếp nối chủ nghĩa cá nhân. Thế nhưng vẫn còn bị che dấu đi một thực tế đó là thân xác già nua lọm khọm hay đau đớn bệnh tật và tiến dần đến cái chết, một thực tế chung không thể chối bỏ ứng nghiệm cho mọi sinh vật. Vậy nên thân xác phải mang hai thái cực vui thú và đau khổ. Một câu hỏi nảy sinh vậy giữa hai cực tôn vinh và khinh chê ta nên đặt thân xác ở giá trị nào? Ta nên thiết lập quan hệ như thế nào cho thích hợp giữa thân xác của ta với thân xác của người khác? Đâu là nền tảng cho một quan hệ đúng, thích hợp? II. Thân xác là gì? - Là một vật giữa muôn sự vật. Thoạt trông thân xác là một vật giữa muôn vật, và như thế nó bị giới hạn, ảm đạm; nó có thể được mô tả, phân tích theo lý-hóa-sinh học. Thân xác tôi đặt ra giới hạn cho tôi. Nhất là bởi nó là lý do khiến tôi không thể có mặt đồng thời ở đây và ở kia. Hơn nữa nó vạch ra một biên giới giữa bên trong và bên ngoài tôi. Biên giới ấy là da thịt tôi. Cái “túi” da thịt ấy chứa đựng tôi, nhốt kín tôi, cô lập tôi, tách biệt tôi ra với thế giới bên ngoài. Thế nhưng nó cũng đồng thời là cái bề mặt của tôi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, với người khác, với những gì khác với cái tôi, và với cả Thiên Chúa là Đấng Khác, Hoàn Toàn Khác. Thế đó chúng ta đã chạm tới giá trị lưỡng diện căn bản của thân xác, vừa tiêu cực vừa tích cực. Mặt trái, nó đóng kín tôi lại, và mặt phải, đồng thời nó mở ra cho tôi cái khả năng quan hệ với người khác. Theo một nghĩa nào đó, thịt da tôi là bộ mặt xã hội của tôi. [Các bác sĩ da liễu biết rõ tương quan hiện có giữa một số căn bệnh da liễu và những khó khăn của quan hệ]. Bị giới hạn trong không gian, nhưng thân xác tôi còn được đặt ở trong thời gian, như thế thân xác con người thành ra có một lịch sử. Có thể nói rằng trong thân xác chúng ta lịch sử cá nhân của chúng ta được thầu về một mối, khi ta sống cũng đồng thời là ta đang tạo ra lịch sử của ta. Những nếp nhăn nheo ngày càng ghi dấu nhiều trên da thịt ta chính là những dấu chỉ rành rành của lịch sử này. Như thế đó, thân xác là khí cụ cho tôi hiện diện trong thế giới, đúng hơn phải nói rằng không có nó tôi không thể hiện hữu như là một người. Nó là một khí cụ đặc biệt, kỳ diệu giúp tôi hiện diện với thế giới, như tâm tình của thánh vịnh gia “Công trình của Người xiết bao kỳ diệu Và hồn tôi biết rõ mười mươi.” Tv 139, 14. Làm sao định nghĩa thân xác đây? Có thể tạm nói thế này thân xác là cái mà trong đó và nhờ đó con người sống một cuộc sống như nhân vị, nghĩa là thực thi và bộc lộ sự tự do của mình trong tương quan với chính mình, với người khác, với thế giới và với Thiên Chúa. Thân xác là cái làm cho mỗi người trở nên một hưu thể có tương quan, và có lẽ không thể nói gì quan yếu hơn nữa. Chính trong thân xác của tôi và với thân xác của tôi mà tôi yêu, hưởng, đau đớn, lao động, cầu nguyện. Nói vắn tắt, tất cả phải đi qua thân xác này. - Nhưng là một vật không giống như mọi sự vật khác. Thoạt trông thân xác là một vật giữa muôn sự vật, thế nhưng, thân xác là một sự vật không như những sự vật khác mà là một thực tại đặc biệt. Nó đặc biệt vì hai lý do. Trước hết, khi nói về thân xác tôi, tôi không thể nói “Tôi là thân xác tôi”, và cũng không thể nói “Tôi có thân xác tôi”. Bởi lẽ rõ ràng là tôi còn là cái gì hơn nữa chứ không chỉ là thân xác tôi cho dù tôi không thể tồn tại mà không có nó. Và cũng không thể nói “tôi có thân xác tôi” bởi vì thân xác tôi không ở ngoài tôi, tôi thực sự không thể biết ai sẽ là chủ thể của động từ “có” này. Kế đến, thân xác con người đặc biệt hơn mọi sự vật khác và duy nhất ở chỗ trong quan hệ với xác chết, xác của người đã chết và điều này được quan sát thấy trong hết mọi nền văn hóa trên thế giới. Có thể nói, con người là con vật biết mai táng đồng loại quá cố của mình. Hoặc, con người là con vật biết nhớ đến những kẻ nó đã từng sống với và đối xử với họ như đối với những người mà một cách nào đó vẫn còn tồn tại. Nghi thức an táng, nói chung ở đâu cũng vậy, dường như nói lên hai điều sau đây hiện hữu là một bi kịch và niềm hy vọng còn mờ mịt của những kẻ còn sống. Bi kịch là vì cái chết, dù có êm ái và tự nhiên đến đâu, cũng luôn là một sự cắt đứt, chia lìa vĩnh viễn với người thân yêu nó bắt đầu một “từ nay mãi mãi không còn nữa”. Nó “chiếu tướng” mọi con người và thực sự đem đến nỗi tan hoang, buồn phiền. Và vì thế nó hiện lên ở đáy sâu của mọi nỗi sợ hãi của ta. Thế nhưng, sự kiện con người ta an táng thi hài kẻ quá cố cũng nói lên một niềm hy vọng nào đó rằng không phải tất cả đã chấm dứt. Trong tâm tư những người còn sống, dường như kẻ quá cố kia còn sống cách nào đó nhưng hiện hữu của họ không còn giống như ta. Đủ hiểu nếu cứ nhìn vào sự kiện ở một số nền văn hóa người ta ướp xác chết như để giữ tối đa nó khỏi bị phân rã. Hoặc mỗi khi nghe thấy một mộ phần ai đó bị quật phá tàn nhẫn, hay một hố chôn tập thể được phát hiện, những hình ảnh ấy để lại tình cảm gì trong mỗi ngươi chúng ta? Thế nên, thân xác con người, kể cả một thi hài tức là xác thân của một người đã chết, không phải là một vật như mọi sự vật khác. Thân xác, như đã nói, là khí cụ để cho tôi hiện diện với thế giới, nhưng, sự hiện diện ấy không chỉ là của một đồ vật, mà đã thuộc trật tự tâm linh hay thiêng liêng. Ở ta người xưa đã nói “Nhân linh ư vạn vật”. Thân xác của tôi là cái mà nhờ đó tinh thần hay tâm linh của tôi được biểu lộ ra trong thế giới, tạo hình thế giới và cũng để mình tự chuyển hóa bởi thế giới. Thân xác như là khí cụ của tinh thần hay tâm linh. Có lẽ hơn thế nữa, phải nói rằng thân xác thân xác có là để cho tinh thần được biểu lộ ra. - Bàn tay con người – con vật đứng thẳng – được giải phóng khỏi nhiệm vụ di chuyển của con vật có tứ chi để có thể làm được rất nhiều nhiệm vụ khác. Thánh Thomas Aquino có một câu nói thú vị “Cái làm nên con người là tinh thần khối óc và bàn tay”. Bàn tay quả thật là một trong những dấu chỉ ấn tượng nhất của trí thông minh. Với chính bàn tay con người thống trị và thực thi uy quyền của mình trên thế giới. Đúng hơn, con người là “tạo hóa” của thế giới nhờ phát kiến ra các dụng cụ, như là những bàn tay nối dài của nó. Bàn tay con người như là người thợ thủ công của khối óc. Chính nhờ bàn tay mà mọi sản phẩm của lao động, khoa học, nghệ thuật, văn hóa, theo một nghĩa nào đó, đã nối dài thân xác con người ra trong thế giới. Thế giới mang đậm nhân tính, thế giới của văn hóa quả thật là thân xác con người nối dài. Không phải chỉ vì ta bén rễ trong thế giới này qua những gì là thuộc sinh học và bản năng ở trong ta, tức thuộc phần con vật, nhưng hơn nữa còn là vì đây là ơn gọi của ta tạo thành được giao phó cho con người để làm cho thế giới tự nhiên nature này trở thành một thế giới văn hóa culture tức là được vun trồng nhờ bàn tay con người, bàn tay mà nhờ đó con người biểu lộ ra như là tinh thần và là tạo hóa. - Khuôn mặt là dung mạo con người. Các nhà nhân chủng học cho ta biết rằng chính bàn tay giúp dung mạo con người xuất hiện. Với bàn tay con người có thể tóm lấy được thực phẩm và khuôn mặt được giải phóng khỏi những chức năng tấn công con mồi như các động vật khác để chiếm hữu cái ăn. Mặt người không còn giống mặt con vật mà tiến hóa dần trở nên diện mạo người với đặc trưng riêng của nụ cười và ngôn ngữ. Chính qua ngôn từ đứa bé dần trở nên người. Qua ngôn từ con người mở ra với thế giới, và từ đó có những gặp gỡ, quan hệ người với người và đối thoại. Mà ngay cả thế giới tư duy cũng vậy con người không thể tư duy mà không có ngôn ngữ. - Cũng thế, tính dục con người, dù giống con vật nhưng có gì hơn thế nữa, vì đó là một thứ ngôn ngữ của thân xác để nói một điều gì hơn là thân xác. Thân xác được phân giới tính, là nam là nữ, có như thế là để cho tinh thần bộc lộ ra ở đó. Sự khác biệt và hấp dẫn giới tính tự nhiên giữa nam-nữ nói lên một điều gì đó của tinh thần. Hướng đến hiệp nhất từ khác biệt và trong khác biệt, mãi mãi là một tiến trình không dứt. Một con người thống nhất. Từ suy tư về thân xác con người, nổi lên ý tưởng rằng con người ta là “một” thể thống nhất không thể tách biệt xác và hồn thân xác và tinh thần. Thân xác, theo tư tưởng Do thái – kitô giáo, không là một yếu tố ngoại tại, mà tinh thần có thể huỷ diệt đi hoặc xuất hành khỏi tù ngục đó như kiểu suy nghĩ nhị nguyên, nhưng là phần cốt yếu của hữu thể người. Thân xác và tinh thần hợp nhất làm một khi hiện hữu giống như thể âm thanh phát ra của lời và ý nghĩa của nó là một khi nói. Tinh thần không bao giờ có được nếu thiếu thân xác tinh thần bao giờ cũng là một tinh thần nhập thể trong một thân xác bodily or embodied spirit. Và thân xác thiếu tinh thần sẽ trở nên là một xác chết thân xác bao giờ cũng là thân xác có tâm linh spiritual body. Trong cuộc sống con người thuộc thế giới này, tất cả đi qua thân xác, tất cả diễn tả bởi thân xác. Cả trong những hành vi tâm linh cao nhất như cầu nguyện, luôn luôn có thân xác ở đấy với những yêu sách của nó, giới hạn ràng buộc của nó, và cũng nhờ nó ta mới thực hiện được hành vi ấy. Không phải chỉ có tinh thần cầu nguyện mà toàn thể con người cầu nguyện. Thế nhưng sự thống nhất ấy nơi con người ta luôn mỏng manh, thường có vấn đề, và phải liên tục tiến hành lại luôn, và không được chối bỏ nhiệm vụ này nếu muốn vẫn là người và là người hơn mỗi ngày. Vì trên nẻo đường ấy, nẻo đường đi tìm về sự thống nhất hài hòa, tinh thần chính là yếu tố cầm chịch, dẫn dắt điệu nhảy. Đích điểm của cuộc chơi đó là làm sao thực hiện viên mãn ngã vị person của ta. Đó là một nhiệm vụ mà cũng là một lựa chọn nếu ta không kiên nhẫn làm việc để tinh thần làm chủ trong ta, thì ta sẽ bị cống nạp cho những xung năng tự nhiên hỗn loạn. Thánh Agostino “Nếu anh em không trở nên tinh thần hơn ngay trong thân xác anh em, anh em sẽ trở thành nhục thể cả trong tinh thần anh em”. III. Suy tư theo mạc khải Thánh kinh - Theo Cựu ước. Con người theo Thánh Kinh không bao giờ đối kháng xác với hồn. Theo thánh vịnh gia “Hồn tôi mong ước đến hao mòn, hướng về tiền đường Yavê, Lòng tôi, xác tôi reo lên, tới Thiên Chúa hằng sống” Tv 84, 3. Nỗi khát khao mong được “nhìn ngắm” Thiên Chúa bằng chính xác thịt mình hay trong thân xác mình tỏ bày xuyên suốt cuốn Thánh Kinh. Ông Gióp khi xác nhận niềm tin phục sinh của mình diễn tả sự phục sinh của một con người toàn diện “Tôi biết rằng Đấng Cúu Chuộc tôi hằng sống, Và ngày tận cùng, tôi sẽ đứng dậy từ bụi đất… Và trong thịt xương này, tôi sẽ được chiêm ngắm Thiên Chúa” G 19, 25-26. Môisê cầu khẩn Yavê “Xin cho tôi thấy vinh quang Ngài” Xh 33, 18. Philiphê nói với Đức Giêsu “Xin tỏ cho chúng con thấy Cha”. Đức Giêsu trả lời ông dùng cùng những tữ ngữ đó “Ai thấy ta là đã thấy Cha” Ga 14, 8-9. Điều đó cho thấy không có cách nào khác nhìn thấy Thiên Chúa ngoài cách mà chúng ta nhìn ngắm Đức Giêsu. Thế nhưng, đối với chúng ta là con người thời đại hôm nay, Đức Giêsu cũng không còn hữu hình đối với con mắt xác thịt của chúng ta. Không ai còn thấy người trên các nẻo đường. Vì thế chúng ta phải xác lập một cái nhìn mới để nhận ra Người những nơi mà xem ra Người không có, nhưng, theo lời Người đã nói, Người thực sự có đó nơi mọi con người nhất là những người nghèo khốn khổ mạt hạng. Đó là một cái nhìn huyền nghiệm trong Thân Thể mầu nhiệm, đặc biệt nơi các chi thể đang chịu đau khổ, của Người. Người tây phương thường có xu hướng hình dung việc suy tư và cầu nguyện diễn ra trong đầu óc, nhưng con người trong thánh kinh lại nói “Thiên Chúa dò thấu lòng dạ can trường” Tv 7,10. Thân xác con người thường được dùng bằng nhiều cách để nói về Thiên Chúa. Như khi người ta nói cánh tay Thiên Chúa, là nói kỳ công của lòng dũng cãm của sức mạnh Người; hay tiếng nói của Thiên Chúa để chỉ Người kêu gọi và an ủi; nói về trái tim hay là lòng dạ Người là muốn nói tình yêu, sự âu yếm, đại lượng tha thứ của Người; hay nói về ruột lòng của Người “đảo lộn bên trong” cf. Hs 11,8 diễn tả mối chạnh thương. Làm thế dĩ nhiên có nguy cơ rơi vào thuyết nhân hình nghĩa là tạo ra một Thiên Chúa theo sự hình dung của con người. Nhưng làm sao nói về Thiên Chúa đây mà không dùng lời lẽ của con người và bắt đầu từ kinh nghiệm con người? Nói cho ngay tác giả thánh kinh không hề là nạn nhân của những tưởng tượng ấy; ông không lẫn lộn chúng với thực tại. Có hai lý do trước hết, để tránh nguy cơ thuyết nhân hình người do thái cấm tuyệt đối mọi cách tạc hình khắc tượng có ý gán cho Thiên Chúa những diện mạo bề ngoài như thân xác con người. “Ngươi chớ khắc hình tạc tượng” là một giới răn muôn đời. Có ý muốn bảo vệ siêu việt tính của Thiên Chúa, Thiên Chúa hoàn toàn khác chúng ta. Kế đến, là cách thức mà tác giả thánh kinh dùng để mô tả Thiên Chúa Tạo Hóa. Trong khi nơi các tôn giáo khác qua các huyền thoại ta thấy các vị thần nam, thần nữ sinh sản trong trò chơi ái tình, đó là do kinh nghiệm tình dục và óc tưởng tượng con người đã chuyển vị qua thần thánh; ngược lại hoàn toàn, Thiên Chúa của Thánh Kinh không sinh sản nhưng tạo dựng vượt trên biên giới của giới tính, không bị khống chế bởi dục tình. Không sản sinh con người dân của Người là dân được chọn, được nhận, là con nuôi. Tạo dựng con người, trong sách Sáng thế ký, còn nói một điều nữa, đó là thân xác con người vốn “từ bùn đất” – một điều giải thích rõ cội rễ chúng ta từ đất từ thế giới này – một thân xác hay hư nát giống như mọi sinh vật khác, lại có điểm đặc biệt này là thọ tạo duy nhất được nói là được tào thành theo hình ảnh, theo họa ảnh của Thiên Chúa. Điều đó chỉ đến một ơn gọi, một sứ mạng. Con người mà Thiên Chúa tạo dựng không phải là một sản phẩm đã hoàn tất nhưng còn phải tiếp tục được thành tựu, và được giao phó việc định hình chính bản thân mình trong tay mình. Đó là con người sáng tạo, như Thiên Chúa, mà trước hết là tự sáng tạo chính mình. Một con người mà đỉnh cao cần phải đạt tới là chính Đức Giêsu. Bởi lẽ Ađam không phải là con người hoàn hảo, mà chỉ là hình bóng của những gì sẽ tới. Con người hoàn hảo thành tựu là Đấng mà Phaolô gọi là Ađam mới, Đức Kitô. Khi nghĩ về mối tương quan giữa hai Ađam, con người và Đức Kitô, các giáo phụ hy lạp đã bình giải rất hay khi tạo dựng con người, Thiên Chúa nghĩ đến Đức Kitô, như là thành tựu phải hướng tới cho Ađam thuở ban đầu, mới chỉ là bản phác thảo. - Theo Tân ước. Ở trung tâm của đức tin và nguồn mạch kitô giáo người ta thấy không những Thiên Chúa tạo dựng thân xác con người, mà hơn nữa, chính Người đã không khinh chê mà đảm nhận lấy thân xác ấy với thân phận giới hạn, yếu đuối, mỏng manh, dễ hư nát nghĩa là phải chết. Người đảm nhận, không phải để rồi để mặc nó, mà để thần hóa nó, tức là làm cho nó nên sáng láng rực rỡ bằng sự hiện diện của Người. “Đức Kitô là Thiên Chúa làm người, để con người được làm Thiên Chúa” Irênê, giám mục Lyon thế kỷ II. Như thế, Đức Kitô mặc khải trọn vẹn cho ta không những về Thiên Chúa mà còn về con người. Ngài cho ta thấy thế nào là con người hoàn hảo, có tương quan đúng đắn với chính mình với người khác với thế giới và với Đấng mà Ngài gọi là Cha. Thư gửi tín hữu Do thái nói với ta về Đức Kitô như sau Ngài “giống chúng ta trong mọi sự chỉ trừ tội lỗi” Dt 4,15 và thường chúng ta nghĩ khoảng cách biệt ấy phải lớn lắm. Nhưng thực ra chính tội lỗi là cái ngăn cản ta làm người trọn vẹn, nghĩa là một thân xác được tác động hoàn toàn bởi Thần khí. Do đó Đức Kitô phục sinh là mặc khải viên mãn về con người. Và Ngài chỉ cho con người biết ơn gọi của mình. Dạy cho ta biết ta từ đâu đến và đi đâu, đặc biệt nói với ta thân xác con người được mời gọi trở nên cái gì. Chúng ta chỉ có thể nói về ơn gọi này khởi đi từ suy tư về một trọng tâm của đức tin, đó là sự phục sinh của Đức Kitô. “Nếu Đức Kitô không sống lại thì đức tin của chúng ta là trống rỗng, vô ích, không có nội dung” 1 Cr 15,16. Chúng ta chỉ có thể nói về tương lai thân xác của mình bắt đầu từ duy một con người sống lại, kẻ duy nhất đã chạm đã biết tới cái chết, và ngang qua đó đã sống lại và sống một cuộc sống mới không còn biết đến cái chết nữa. Thật ra chúng ta không thể nói gì về sự sống lại của Đức Kitô vì không ai làm chứng nhân cho sự ấy cả, mà chỉ cho những lần Đức Kitô phục sinh ấy hiện ra. - Thân xác có thần khí. Thân xác của Đấng Phục Sinh vượt thoát những giới hạn của không-thời gian. Hay ta có thể nói đó là một thân xác có những thuộc tính của thần khí, và vì là thần khí, thân xác ấy vượt thoát mọi nắm bắt. Thánh Phaolô nói về thân xác có thần khí sôma pneumatikón 1Cr 15,44 một cách rất bạo dạn. Nhưng ngài không thể diễn tả tốt hơn sự thống nhất xác-thần sự thống nhất xác-thần của Đức Kitô Phục Sinh là chính cái đích ta được mời gọi tới. Có thể nói hay chăng có một thân xác con người – đã chuyển hóa, thần khí hóa, nhưng vẫn là thân xác – trong Ba Ngôi thần linh chí thánh? Bởi vì sự nhập thể của Thiên Chúa, trong mầu nhiệm Đức Kitô, nghĩa là, cuộc xuống thế trong một thể xác con người của Ngài, là vĩnh viễn không thể đảo ngược. Thế nên, khẳng định rằng Đức Kitô vẫn đang sống trong thân xác Ngài, cũng là xác định một nền tảng chắc chắn cho phẩm giá – vô điều kiện – của mỗi con người, mỗi thân xác con người, do đó phải được tuyệt đối kính trọng. Nói thế nghĩa là, thân xác chúng ta vốn từ nay, dù một cách âm thầm ẩn dấu và còn chưa hoàn hảo, là đền thờ của Chúa Thánh Thần, được mời gọi sống trong viên mãn Thần Khí đó. Như thế nói “xác sống lại” là chưa đủ bởi lẽ đó là sự sống lại của con người toàn thể, xác-hồn. Như thế cần phải nói rằng ở bên kia cái chết, khi ta được phục sinh cùng với Đức Kitô, thân xác chúng ta sẽ được đưa tới thành tựu cuối cùng của nó, và sẽ hoàn tất viên mãn chức năng làm khí cụ hiện diện của nó hiện diện với Thiên Chúa, với nhau người này người kia trong một quan hệ trong sáng, hiệp thông trọn vẹn. Những quan hệ tình yêu tình bạn hạnh phúc nhất bây giờ mới chỉ là phác thảo của sự viên mãn kia. - Thân xác chịu đau khổ, mặc khải sự tự do Khởi đi từ Đức Giêsu đứng trước sự đau khổ, của chính Ngài và của con người. Đức Giêsu không phải là một siêu nhân, mà là một con người như ta, với một xác thân như ta biết đến mệt nhọc, thương tích, và phải chết. Thân xác Ngài cũng từng là một thân xác chịu đau khổ, dù biết rằng khổ đau tự nó chẳng có chút giá trị gì. Điều làm nên giá trị của cái chết của Đức Kitô không phải tất cả những nỗi đớn đau Ngài phải chịu. Nhưng giá trị làm nên ở chỗ Ngài đã biến cái chết ấy, cái chết mà Ngài biết không thể tránh khỏi và đang đến do định tâm của một vài người và là hệ quả mà Ngài không tìm cách trốn chạy của việc Ngài đã nói và đã làm, trở thành một ân ban tự do. Chính lúc người ta sắp xử tử Ngài nói “Bởi điều này mà Cha yêu mến ta vì ta hiến ban mạng sống mình… Không ai có thể tước đi mạng sống ta… ta có quyền hiến ban và có quyền lấy lại” Ga 10, 17-18. Ngài đã làm cho sự sống hiến ban cách tự do ấy trở nên là dấu chỉ của tình yêu lớn nhất. Nếu đau khổ tự nó chẳng có giá trị gì, thì Đức Giêsu chỉ cho chúng ta biết phải làm gì với đau khổ khi nó đến. Nên hiểu cho rõ điều này cũng như những gì đã xảy ra với Đức Kitô, nơi thân xác đau đớn, bệnh tật, thương tích của chúng ta cũng thế, nó mặc khải cho ta biết rằng con người là tự do. Vậy khi gặp đau đớn bệnh tật hay yếu liệt của tuổi cao, tôi phải làm gì? Phản kháng hay nổi loạn ư? Hay tôi phải chiến đấu,nhưng tôi phải đón nhận thực tế ấy với thái độ nào? Tôi sẽ cam chịu định mệnh cầm chắc, hay tôi sẽ cho nó một ý nghĩa mà thoạt trông nó không có? Dường như trong hoàn cảnh giới hạn của một thân xác đau khổ tầm vóc lớn lao vô định của sự tự do mới được bộc lộ ra. Chính đây thực sự sự vĩ đại của con người được phác họa ra, nghĩa là, ý nghĩa không nằm nơi sự vật mà chính do ta ban cho nó một ý nghĩa. Kết luận Trước câu hỏi phải tôn vinh thân xác hay khinh thị nó, chúng ta quay sang nhìn ngắm Ngôi Lời làm người đã đảm nhận một thân xác người không phải để mà phô bày ra những giàu sang đài các của nó, nhưng để gặp gỡ con người, để hiện diện, để mình được những người nghèo hèn mọn nhìn ngắm, lắng nghe và chạm tới. Như thánh Gioan đã nói “Điều chúng tôi đã nghe, mắt chúng tôi đã thấy và chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm tới, đó là Ngôi Lời sự sống… chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa” 1Ga 1,1-3. Vậy nên chúng ta có thể trả lời cho câu hỏi thân xác để làm gì, để cho ai? Rõ ràng là thân xác của Đức Giêsu là một thân xác cho người khác, một khí cụ để hiện diện huynh đệ với con người, một thân xác bị phơi bày, trao nộp, không chỉ là dụng cụ để hiện diện nhưng là bí tích của sự kiện Ngài hiện diện như một hy lễ. Chúng ta cũng có thể và phải như thế. Kitô hữu, kẻ đã được nhúng thân thể mình trong giếng rửa tội một cách biểu trưng như nhúng vào cái chết của Đức Kitô, thân xác mang ý nghĩa bí tích của gặp gỡ trong tình yêu, tình bạn, trong phục vụ huynh đệ. Dĩ nhiên, ta không hờ hững với sự kiện một thân xác đẹp, tinh tế, hài hòa. Thế nhưng điều đáng quan tâm hơn, đó là nơi tỏ lộ một vẻ đẹp lớn nhất, không phải cái đẹp của một đồ vật mà của một thực tại sống nhờ đó một tinh thần bộc lộ điều gì đó của một cái gì hiện hữu, cho dù là một cái đẹp chóng qua, mong manh yếu đuối nhưng quý giá. Tuy nhiên một xác thân già nua, thương tích, bệnh hoạn, tật nguyền cũng có thể là một khí cụ của sự hiện diện, và như thế bộc lộ ra vẻ đẹp thực sự của nó là chính vẻ đẹp của bí tích gặp gỡ huynh đệ; và thân xác cho dù tàn tật là nơi để tinh thần có thể biểu lộ, trong cái yếu nhược của xác thịt. Lữ Y Nguyễn Từ ngày 06/12/2011 Tra từ sử dụng VietId đăng nhập. Công cụ cá nhân Danh từ thân thể, phần xác của con người, về mặt tách khỏi tinh thần, tình cảm thân xác to lớn linh hồn thoát ra khỏi thân xác Đồng nghĩa thể xác tác giả Tìm thêm với NHÀ TÀI TRỢ Tải về bản PDF Tải về bản PDF Mỗi người đều chật vật trong việc khám phá con người thật sự của mình. Thường khi xác định bản thân, con người thường tập trung vào điểm tiêu cực hoặc so sánh mình với người khác. Không ai có thể thay bạn xác định bản thân mình cả, bài viết này sẽ chia sẻ vài bí quyết giúp bạn tự xác định bản thân một cách tích cực. 1 Hiểu chính mình. Khả năng hiểu về bản thân, nhất là sự tự nhận thức không phán xét, là kỹ năng quan trọng để giúp bạn xác định bản thân. Bạn sẽ cần hiểu điều gì dẫn dắt bạn, quá trình suy nghĩ của bản thân trước khi xác định mình là ai với tư cách một con người.[1] Chánh niệm có nghĩa là chú ý đến suy nghĩ và quan sát khuôn mẫu suy nghĩ của bản thân. Ví dụ, bạn nhận thấy rằng bản thân có xu hướng cảm thấy mọi người không quan tâm suy nghĩ của mình và ý kiến của mình là không quan trọng. Việc nhận ra những lúc bản thân dấy lên những suy nghĩ kiểu này và phát hiện ra trước khi nó khiến bạn lo lắng sẽ giúp bạn xếp lại được các mảnh ghép quan trọng trong bản sắc cá nhân của mình. Khi bạn bắt đầu chú ý đến quá trình suy nghĩ và khuôn mẫu của nó, bạn sẽ cần luyện tập khả năng không phán xét. Điều này có nghĩa là bạn phải nhận thức được khuôn mẫu suy nghĩ bản thân và thừa nhận chúng chứ đừng chỉ trích. Ai cũng có những suy nghĩ tiêu cực, nhưng bằng cách chú ý đến chúng, bạn có thể loại bỏ chúng khỏi tâm trí. 2 Chú ý cách bạn xác định bản thân. Một khi đã chú ý được đến cách mình nghĩ về bản thân và thế giới, hãy đặc biệt chú ý đến cách bạn xác định bản thân. Hãy rà soát những nhóm và cộng đồng bạn dùng để nhận diện bản thân. Tất cả những điều đó đều nói cho bạn biết về bản thân cũng như bạn đang để điều gì xác định bản sắc của bạn.[2] Ví dụ, hãy xem những thứ như tôn giáo, quốc tịch, xu hướng tính dục có phải là những cách bạn dùng để xác định bản thân hay không. Xem xét vai trò mà bạn đang đảm nhận, như công việc, vị trí trong gia đình là mẹ, bố, chị, hay anh, tình trạng mối quan hệ độc thân, có người yêu,… 3 Viết ra quá trình suy nghĩ và tự định nghĩa bản thân. Để trở nên thông thạo trong việc nhìn thấu quá trình suy nghĩ, định nghĩa, cách hành xử, và con người bạn là ai, hãy viết tất cả ra một cuốn sổ. Bạn sẽ có cái nhìn trực quan về cách bạn nghĩ về mình và dễ dàng loại bỏ những liên tưởng tiêu cực. Bạn cũng có thể nói chuyện và làm việc với nhà tâm lý học lâm sàng để họ giúp bạn khám phá các khuôn mẫu suy nghĩ và tồn tại. Họ cũng có thể giúp bạn giải quyết các khía cạnh tiêu cực trong suy nghĩ. Quảng cáo 1 Ghi lại các suy nghĩ tiêu cực về bản thân. Ghi chép và chú ý những lúc dấy lên suy nghĩ tiêu cực về bản thân sẽ giúp bạn loại bỏ chúng dễ dàng. Mở lòng và trút hết những suy nghĩ ấy ra sẽ loại bỏ được kha khá suy nghĩ tiêu cực mà bất lâu bạn luôn kiềm giữ trong tâm trí và bản thân.[3] Đừng giới hạn bản thân một cách tiêu cực. Định nghĩa về cái tôi quyết định cách bạn hành động. Ví dụ, nếu bạn tự cho mình là người chỉ toàn dính vào những mối quan hệ tồi tệ, thì nghĩa là bạn đã tự mình tước đi cơ hội được đầu tư vào mối quan hệ lãng mạn lành mạnh hơn. Bạn tự kể câu chuyện, rồi bạn tin vào câu chuyện, và bạn sẽ hành xử theo cái cách chứng minh câu chuyện là sự thật. 2 Xác định giá trị cốt lõi. Bạn không nên định nghĩa bản thân dựa theo những đánh giá của người ngoài, bởi vì ý kiến từ bên ngoài sẽ biến thiên và thay đổi liên tục. Bằng cách tự mình khẳng định những giá trị cốt lõi, bạn sẽ có định nghĩa bền vững hơn về con người mình. Bạn sẽ không đánh mất bản sắc nếu nó được dựa trên những giá trị cốt lõi do chính bạn xác định, như sự vị tha, lòng dũng cảm, hay tính chính trực. Hãy lập một danh sách những giá trị này và hành động dựa theo chúng một cách có ý thức và lưu tâm. Vì vậy, nếu dũng cảm là một trong những giá trị cốt lõi của bạn, thì hãy bảo vệ người bị quấy rối ở trạm xe buýt, hoặc nếu thành thật là giá trị cốt lõi, thì hãy thú nhận khi chính bạn làm mất chiếc đồng hồ yêu thích của bố. Nếu nhân từ là giá trị của bạn, thì hãy xung phong làm tình nguyện ở các nhà tình thương dành cho người vô gia cư. 3 Định nghĩa bản thân theo cách tích cực. Điều này không có nghĩa là bạn quên đi những sự kiện tiêu cực hay hành động không đúng trong cuộc đời mình. Chúng cũng là một phần con người bạn, nhưng chúng không thể định nghĩa bạn.[4] Điều này có nghĩa là đừng để hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng bản sắc con người bạn. Những thứ xuất phát từ bên trong, từ những giá trị cốt lõi bạn đã xác định mới là điều quan trọng đối với bản sắc của bạn. Hãy hiểu rằng những trải nghiệm tiêu cực trong cuộc sống cung cấp kiến thức cuộc đời cho bạn. Ví dụ, nếu gặp chuyện không hay trong mối quan hệ yêu đương, thì bạn có thể học hỏi từ đó. Mối quan hệ ấy dạy cho bạn điều gì về kiểu người bạn muốn trở thành? Quảng cáo Lời khuyên Đừng quên rằng ngoài bạn ra, không ai có thể định nghĩa con người bạn. Bạn phải là người duy nhất có thể quyết định mình là ai. Thành thật với bản thân, nhưng đừng tự chỉ trích. Có nghĩa là bạn không nên tự nói với bản thân những điều như “Tôi xấu xí”, hay “Tôi ngu đần”. Cảnh báo Đừng so sánh bản thân với người khác, bạn không thể vì đó là điều không công bằng đối với họ cũng như chính bạn, bởi vì bạn có xuất thân, những điều bất an, hay kỳ vọng về cuộc đời và bản thân không giống bất cứ ai. So sánh hai người với nhau chẳng khác gì gạt bỏ hết những yếu tố đó, xem họ như sản phẩm và so sánh xem ai tốt hơn. Đừng xếp mình vào một phân nhóm nào và nghĩ rằng bản thân phải hành động theo như vậy. Về bài wikiHow này Trang này đã được đọc lần. Bài viết này đã giúp ích cho bạn? Nếu bạn là người Công giáo, hẳn bạn đã nghe cụm từ “để dành tình dục cho Hôn nhân” rất nhiều lần. Có bao giờ bạn thắc mắc tại sao và được giải thích rõ ràng, cụ thể? Cho đến khi bạn có hiểu biết mạch lạc và đầy đủ về tính dục của mình, việc để dành tình dục cho Hôn nhân sẽ không có ý nghĩa gì. Khi đó, cho dù bạn không đầu hàng nó hoàn toàn, bạn có thể sẽ sống sai lầm, vì những lý do sai lầm 1. Bạn sẽ tự thuyết phục bản thân rằng mọi hành động xung quanh việc quan hệ tình dục QHTD như làm cho xuất tinh ngoài making out, khỏa thân getting naked, tình dục bằng miệng oral sex đều được phép, miễn là không có QHTD thật sự. 2. Hoặc bạn sẽ né tránh việc QHTD như một hành động bậy bạ và sai trái. Tôi nhớ khi còn bé, mỗi lần xem phim mà sắp sửa đến đoạn hai nhân vật chính hôn nhau, thì thể nào ba mẹ cũng bảo tôi nhắm mắt lại hoặc chuyển ngay sang kênh khác. Ở trường học, bộ môn sinh học, tâm lý giới tính,… được giảng dạy rất chung chung và thiếu thông tin. Đôi khi vì người nói không đủ chuyên môn để giải thích tường tận, còn chúng ta vì mắc cỡ mà không dám đặt câu hỏi. Vậy đâu là ý nghĩa thực sự của việc gần gũi thể xác? Ý nghĩa của việc gần gũi thể xác Xã hội mà chúng ta đang sống nói rằng Bạn nghĩ việc gần gũi thể xác có nghĩa là gì thì nó sẽ là như thế. Nếu bạn muốn nó là sự thể hiện tình cảm yêu thương trọn vẹn, thì nó là sự thể hiện tình cảm yêu thương trọn vẹn, còn nếu bạn nghĩ nó chỉ cho vui, chẳng có gì to tát cả thì nó cũng sẽ chẳng có lớn lao gì. Nhưng vấn đề với lập luận này là, cơ thể có ngôn ngữ riêng của nó. Nếu bạn đi trên phố và đang tay trong tay với một người, người khác nhìn vào sẽ nghĩ gì nào? Chắc chắn họ sẽ nghĩ hai bạn đang hẹn hò với nhau. Vì sao ư? Vì đó là ngôn ngữ cơ thể của việc nắm tay nói lên. Nó thể hiện tình cảm và sự gần gũi của bạn dành cho người kia. Tương tự với những hành động khác như ôm hôn, va chạm thể xác… tất cả đều mang một ý nghĩa nhất định. Những hành động này nói lên rằng bạn quan tâm họ, bạn yêu họ và bạn cam kết với họ. Đó là lý do vì sao người Công giáo tin rằng khái niệm vui chơi qua đường’ là sai trái, khi bạn đang dùng cơ thể của mình để bày tỏ với người ấy rằng, bạn quan tâm họ, nhưng sự thật là bạn chỉ quan tâm đến niềm vui và cảm xúc của mình. Bạn đang nói dối với chính cơ thể của mình. Việc xác lập giới hạn quan trọng không bởi vì những gần gũi thể xác là xấu hay bậy bạ, chúng quan trọng bởi vì những gì chúng ta nói với cơ thể mình phải thống nhất với ý nghĩ trong trái tim và phải phù hợp với từng giai đoạn của mối quan hệ MQH. Bắt đầu từ trái tim Một cám dỗ thường gặp khi chúng ta bắt đầu thiết lập ranh giới trong MQH là câu hỏi “Bao xa là quá xa?” hay “Những gì tôi có thể làm với người ấy trước khi nên dừng lại?” Vấn đề với những câu hỏi kiểu này là nó đang tập trung vào việc tiến gần đến ranh giới cấm, hơn là tập trung vào làm những gì tốt nhất cho bản thân bạn và người ấy. Câu hỏi này tập trung vào việc tiến gần đến ranh giới cấm, hơn là tập trung vào việc những gì tốt nhất cho bản thân bạn và người yêu. Thay vì hỏi “Bao xa là quá xa?”, bạn nên hỏi “Làm thế nào tôi có thể bảo vệ trái tim người ấy?”; “Làm thế nào tôi có thể đưa người ấy đến gần Chúa hơn?”; “Làm thế nào tôi chắc chắn rằng những gì tôi đang nói qua cơ thể mình trùng khớp những ý nghĩ trong trái tim tôi?” Chỉ khi trái tim bạn tập trung trả lời những câu hỏi này, việc thiết lập ranh giới lành mạnh cho mối quan hệ của bạn mới thực sự khả thi. Bắt đầu cuộc trò chuyện Đừng để MQH của bạn đi quá xa mới bắt đầu cuộc trò chuyện này. Cũng đừng ngay lập tức hỏi người ấy nghĩ thế nào về nụ hôn nồng nhiệt ngay buổi hẹn hò đầu tiên. Thời điểm tốt nhất để hỏi những câu hỏi này là khi bạn nhận thấy mối quan hệ của hai bạn có thể triển nở sau một vài lần gặp mặt. Để mở đầu, bạn có thể sẽ cảm thấy hơi lo lắng, không thoải mái hoặc có chút phòng vệ, vì bạn đang sắp sửa nói về những điều khá riêng tư và nhạy cảm. Cảm thấy như thế là việc rất bình thường, chúng thể hiện những điều này quan trọng với bạn thế nào, đó là lý do bạn cởi mở và chấp nhận việc có thể bị tổn thương khi thổ lộ với người ấy những suy nghĩ thầm kín của mình. Không có một cách thức chuẩn xác cho cuộc trò chuyện này, nhưng điều quan trọng bạn cần nhớ là hãy cụ thể. Đừng lảm nhảm, thay vào đó, có một số khía cạnh chắc chắn bạn cần phải đề cập Tình dục Khi QHTD, cơ thể của chúng ta đang nói lên một ngôn ngữ của sự tận hiến và cam kết trọn vẹn. Tình dục không nói Tôi chỉ lấy em trong chốc lát’ hay Tôi chỉ thích cơ thể của em’. Tình dục nói rằng Tôi trao trọn bản thân mình cho em, mãi mãi’. Đó là lý do bối cảnh thích hợp nhất cho tình dục là trong Hôn nhân hợp pháp. Nhiều người cho rằng, tình dục chỉ là cảm xúc khoái cảm hiện tại, rằng họ có thể quay lưng bước đi sau khi QHTD mà không để lại hậu quả gì. Điều này hoàn toàn sai lầm. Tình dục là một chất keo gắn kết hai người với nhau cách mạnh mẽ. Trên phương diện khoa học, khi hai người QHTD hay có những kích thích tình dục, bộ não của họ sẽ phóng thích chất dẫn thần kinh là Oxytocin người nữ và Vasopressin người nam, gắn kết hai người với nhau. Điều này sẽ giúp những cặp vợ chồng kiên trì vượt qua những thử thách trong đời sống Hôn nhân, nhưng ngược lại, sẽ là THẢM HỌA cho những cặp đôi đang hẹn hò. Trong giai đoạn mà bộ não của người nữ cần hoạt động hết công suất để thành công trong việc lựa chọn bạn đời, cô càng không được để tâm trí mình bị ảnh hưởng và thay đổi bởi Oxytocin – hooc-môn gây nên ảo tưởng về tình yêu thực sự, làm mất đi khả năng xét đoán rõ ràng giá trị của MQH, và coi nhẹ những điều tiêu cực đến khi quá muộn. Theo đó, bạn có thể thấy rõ rằng những kích thích tình dục cũng là một phần của tình dục. Sự gần gũi thể xác, sự gắn kết cảm xúc – chúng không đột nhiên biến mất dù bạn không thực sự QHTD. Chúng vẫn sẽ gắn kết và gây nên những hậu quả trên nhưng ở một cấp độ thấp hơn. Nhận ra điều này, chúng ta không chỉ để dành tình dục cho Hôn nhân, mà mọi hình thức gần gũi và những kích thích tình dục cho Hôn nhân. Đây là ranh giới có ý nghĩa quan trọng nhất. Nụ Hôn Có một sự khác biệt lớn giữa nụ hôn đơn giản và nụ hôn ướt át. Tôi Samuel và bạn gái mình đặt ra một số ranh giới cho việc Hôn. Đầu tiên, chúng tôi sẽ không hôn khi vừa mới gặp mặt. Chúng tôi đều đã từng trong những mối quan hệ mà việc gần gũi thân xác trở nên quá nhanh như một tấm màn che lấp sự vắng mặt của tình yêu đích thực. Chúng tôi không muốn điều này xảy đến một lần nữa, vì thế chúng tôi giữ mọi thứ chậm lại. Nụ hôn rất đẹp, nhưng mục đích của một MQH là để hai người tìm hiểu nhau, chứ không chỉ để hôn. Tôi thường xuyên chứng kiến những mối quan hệ bắt đầu tốt đẹp, nhưng vì họ quá tập trung vào khía cạnh thể xác mà ngó lơ những khía cạnh cảm xúc, xã hội và tinh thần rồi nhanh chóng tan rã. Tôi và bạn gái quyết định dành thời gian để xây dựng những khía cạnh này trước. Chỉ khi chúng tôi có được một nền tảng tình cảm, xã hội và tinh thần vững chắc, chúng tôi mới có nụ hôn đầu tiên. Để dành nụ hôn nồng nhiệt cho Hôn nhân Một lần nữa, điều này liên quan đến những gì bạn đang nói qua cơ thể mình. Trong khi một nụ hôn đơn giản chỉ là thể hiện tình cảm, thì một nụ hôn nồng nhiệt thể hiện ước muốn đi xa hơn. Jason Evert trong cuốn “Bạn xứng đáng với một tình yêu đẹp”, nói về món quà của nụ hôn Trong quá trình hẹn hò và thạm chí khi đã đính hôn, Crystalina và tôi vẫn giữ mối quan hệ thuần khiết và những nụ hôn đơn giản. Thời gian đó, tôi nhận ra mình càng trân trọng cô ấy mỗi ngày một hơn. Cô ấy trở nên quyến rũ với tôi vì mối quan hệ của chúng tôi giữ được một nét gì đó bí ẩn. Jason viết “Tôi hi vọng bạn tiến đến Hôn nhân – nơi bạn sẽ trải nghiệm một sự bình yên nội tại bởi được nhìn ngắm và ôm hôn bởi một người trân trọng tâm hồn bạn nhiều hơn cơ thể bạn. Bất kỳ hình thức gần gũi thể xác nào cũng không thể sánh được với sự thân mật mà bạn sẽ nếm trải với người vợ/chồng tương lai của mình, dù chỉ là một nụ hôn phớt nhẹ và mỉm cười đầy chân thành. Nếu đó là mong muốn của trái tim bạn, hãy hỏi chính mình rằng Nụ hôn của tôi xứng đáng với điều gì’? Câu hỏi này không nhằm chỉ trích những nụ hôn bạn đã phung phí, nhưng tôi hi vọng bạn tái khám phá giá trị của nụ hôn. Bởi vì chúng ta đang sống trong một xã hội sa ngã và bị khiêu dâm hóa, một thế giới không thực sự coi trọng vẻ đẹp của thân xác, những phương tiện truyền thông phủ đầy nhục dục. Chúng ta đánh mất lăng kính để nhìn ngắm tình dục theo cách tốt đẹp như Chúa đã tạo ra. Hiếm khi chúng ta dừng lại để suy xét một nụ hôn đơn giản có ý nghĩa gì”. Và những khía cạnh gần gũi khác Bất kỳ hình thức gần gũi thể xác nào với người khác giới cũng không thể sánh với sự gần gũi mà bạn sẽ có với người vợ/chồng của mình, dù chỉ là một nụ hôn phớt nhẹ và mỉm cười với cảm xúc chân thành. Chẳng hạn như cách nhắn tin, đùa giỡn, âu yếm nhau, … Nếu một hành động chỉ đơn giản là cách bạn thể hiện cho người ấy biết bạn quan tâm họ thế nào, nó hiển nhiên là một phần lành mạnh của mối quan hệ. Nhưng nếu một hành động cám giỗ hai bạn đi xa hơn, xin đừng lặp lại nó. Để định hình điều này thật không dễ dàng. Nó đòi hỏi hai bạn phải trung thực với chính mình và với nhau. Khi thảo luận về những vấn đề này, bạn sẽ nhận ra rằng quan điểm của hai bạn có thể khác nhau. Có thể có những cách thể hiện tình cảm là ổn với người này, nhưng lại là nguồn cám giỗ đối với người kia. Bạn cũng cần nhận ra tầm quan trọng của bối cảnh. Sự gần gũi sẽ có hàm ý khác nhau trong những cảnh huống khác nhau. Ví dụ, khi hai bạn âu yếm nhau trong phòng khách, nơi có những thành viên khác qua lại thường xuyên sẽ khác với khi hai bạn âu yếm nhau trên giường, vào tối khuya, khi cửa đóng chặt. Đó là một nguồn cám giỗ nguy hiểm. Liệu hai người có thể gìn giữ sự thuần khiết tuyệt đối khi cùng nằm trên giường và xem một bộ phim? Dĩ nhiên, nhưng bối cảnh đó dễ khiến hai bạn thỏa hiệp với những ranh giới tiêu chuẩn của mình. Không dừng lại cuộc trao đổi Đây không phải là cuộc trao đổi một lần rồi thôi. Thật tuyệt khi hai bạn đã thiết lập được những ranh giới rõ ràng khi MQH vừa mới chớm, nhưng quan trọng hơn là hãy tiếp tục duy trì cuộc trò chuyện. Ít nhất mỗi một vài tuần, hãy hỏi liệu hai bạn có đang đi đúng hướng. Cần dũng cảm và tinh tế để nhận ra và nhắc nhở nhau khi một trong hai bạn đang đi xa hơn những gì đã thỏa thuận. Sẽ có những thử nghiệm và sai sót. Có thể bạn sẽ không lường trước một hình thức gần gũi nào đó sẽ khơi dậy nơi bạn mong muốn đi xa hơn, nhưng nó lại xảy đến. Khi đó, đừng quá hoảng loạn, bạn cần thành thật với nhau về điều đó và quay về tiêu chuẩn của mình hoặc đặt ra một ranh giới mới. Nói Có’ với tình yêu đích thực Nghe có vẻ trái ngược, nhưng việc đặt ra những giới hạn sẽ mang lại tự do cho mối quan hệ của bạn. Ranh giới thường bị hiểu lầm như rất nhiều tiếng không’ kéo dài. Nhưng điều mà tôi nhận ra là chúng ta đang thực sự nói có’. Có’ để nhận ra ý nghĩa thực sự của việc gần gũi thể xác, có’ vì sự hợp nhất giữa ngôn ngữ cơ thể và trái tim mình, và có’ vì chúng ta trân trọng một tình yêu thuần khiết, trọn vẹn. Bài này lấy từ For English Definition from Wiktionary, the free dictionary Jump to navigation Jump to searchContents 1 Vietnamese Etymology Pronunciation Noun Vietnamese[edit] Etymology[edit] thân +‎ xác. Pronunciation[edit] Hà Nội IPAkey [tʰən˧˧ saːk̚˧˦] Huế IPAkey [tʰəŋ˧˧ saːk̚˦˧˥] Hồ Chí Minh City IPAkey [tʰəŋ˧˧ saːk̚˦˥] Noun[edit]thân xác body of a person as opposed to the mind Retrieved from " Categories Vietnamese compound termsVietnamese terms with IPA pronunciationVietnamese lemmasVietnamese nounsHidden category Vietnamese nouns without classifiers

thân xác là gì